banner-news

 

[SHTT 5] Nội dung, giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ

(Theo Điều 18 đến Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ)
Trong hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền tác giả giữ vai trò trung tâm trong việc bảo vệ thành quả sáng tạo trí tuệ của cá nhân, tổ chức đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Tại Mục 1 Chương II, Luật Sở hữu trí tuệ quy định đầy đủ về nội dung quyền tác giả, các giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ, qua đó thiết lập khuôn khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và lợi ích chung của xã hội.

1. Quyền tác giả

Theo Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Hai nhóm quyền này gắn bó chặt chẽ với nhau, vừa phản ánh mối liên hệ tinh thần giữa tác giả và tác phẩm, vừa ghi nhận giá trị kinh tế mà tác phẩm mang lại trong quá trình khai thác, sử dụng.

Việc phân định rõ quyền nhân thân và quyền tài sản có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn, bởi mỗi nhóm quyền có phạm vi, thời hạn bảo hộ và cơ chế chuyển giao khác nhau, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền lợi của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.

2. Quyền nhân thân của tác giả

Theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân bao gồm bốn quyền cơ bản:

  • Quyền đặt tên cho tác phẩm, thể hiện dấu ấn cá nhân và sự ghi nhận đối với hoạt động sáng tạo;
  • Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
  • Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm, thể hiện quyền quyết định thời điểm và hình thức đưa tác phẩm đến công chúng;
  • Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Các quyền nhân thân này phản ánh mối quan hệ tinh thần bền chặt giữa tác giả và tác phẩm, đồng thời là cơ sở để bảo vệ danh dự, uy tín và giá trị sáng tạo của người làm ra tác phẩm trong suốt quá trình tồn tại của tác phẩm.

3. Quyền tài sản của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

Theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tài sản bao gồm các quyền khai thác kinh tế đối với tác phẩm, cụ thể như:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Về nguyên tắc, tổ chức, cá nhân khi khai thác hoặc sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản nêu trên phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và thực hiện nghĩa vụ trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc các quyền lợi vật chất khác, trừ các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép hoặc không phải trả tiền theo quy định tại Điều 25 và Điều 26 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Quyền tài sản thể hiện giá trị kinh tế của tác phẩm và là động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đầu tư và thương mại hóa các sản phẩm trí tuệ trong nền kinh tế tri thức.

4. Quyền tác giả đối với một số loại hình tác phẩm đặc thù

Luật Sở hữu trí tuệ dành các điều khoản riêng để điều chỉnh quyền tác giả đối với những loại hình tác phẩm có tính đặc thù cao.

  • Đối với tác phẩm điện ảnh và tác phẩm sân khấu (Điều 21), các cá nhân trực tiếp thực hiện những công việc mang tính sáng tạo như đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, biên đạo múa, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, đạo cụ, kỹ xảo và các công việc sáng tạo khác được hưởng các quyền nhân thân theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật SHTT, cùng các quyền khác theo thỏa thuận. Trong khi đó, tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sản xuất tác phẩm là chủ sở hữu các quyền tài sản theo khoản 3 Điều 19 và Điều 20, đồng thời có nghĩa vụ chi trả nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác cho những người tham gia sáng tạo.
  • Đối với chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu (Điều 22), pháp luật bảo hộ chương trình máy tính như tác phẩm văn học, không phân biệt hình thức thể hiện là mã nguồn hay mã máy. Sưu tập dữ liệu được bảo hộ nếu thể hiện tính sáng tạo trong việc tuyển chọn, sắp xếp tư liệu; tuy nhiên, việc bảo hộ này không bao hàm quyền đối với chính các tư liệu cấu thành.
  • Đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian (Điều 23), pháp luật không xác lập cơ chế độc quyền, mà yêu cầu tổ chức, cá nhân khi sử dụng phải dẫn chiếu xuất xứ và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm, qua đó thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ di sản văn hóa của cộng đồng.
  • Đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học (Điều 24), Luật Sở hữu trí tuệ xác lập nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả đối với các loại hình tác phẩm được liệt kê tại khoản 1 Điều 14 của Luật này, bao gồm các tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình; bài giảng, bài phát biểu; tác phẩm báo chí, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh; tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, nhiếp ảnh, kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ khoa học; tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu. Việc bảo hộ cụ thể đối với các loại hình tác phẩm này do Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật và phù hợp với đặc thù của từng loại hình sáng tạo.

5. Giới hạn quyền tác giả - cân bằng lợi ích xã hội

Nhằm bảo đảm quyền tiếp cận tri thức và phục vụ lợi ích chung của xã hội, Luật Sở hữu trí tuệ quy định rõ hai nhóm trường hợp giới hạn quyền tác giả đối với tác phẩm đã được công bố.

Thứ nhất, các trường hợp được sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép và không phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 25), bao gồm:

  • Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
  • Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;
  • Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
  • Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
  • Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;
  • Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
  • Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
  • Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
  • Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
  • Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp này phải ghi rõ tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm (trừ trường hợp không thể xác định được), đồng thời không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

Thứ hai, các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng vẫn phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 26), chủ yếu áp dụng đối với tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm để thực hiện chương trình phát thanh, truyền hình có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào. Trong trường hợp này, tổ chức sử dụng không cần xin phép trước nhưng bắt buộc phải trả nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của Chính phủ, đồng thời vẫn phải bảo đảm không xâm phạm quyền của tác giả và ghi rõ tên tác giả, nguồn gốc tác phẩm. Quy định này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.

Thông qua việc phân định rõ hai nhóm trường hợp trên, Luật Sở hữu trí tuệ đã thiết lập cơ chế cân bằng hợp lý giữa bảo hộ quyền tác giả và nhu cầu sử dụng tác phẩm phục vụ học tập, nghiên cứu, truyền thông và đời sống xã hội.

6. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả có thời hạn bảo hộ khác nhau tùy theo từng loại quyền và loại hình tác phẩm. Trong đó, một số quyền nhân thân của tác giả, cụ thể là quyền đặt tên tác phẩm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, được bảo hộ vô thời hạn; các quyền nhân thân còn lại và toàn bộ quyền tài sản có thời hạn bảo hộ xác định theo quy định của pháp luật.

Cụ thể, đối với các loại hình tác phẩm như điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu và mỹ thuật ứng dụng, thời hạn bảo hộ quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản là 50 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu. Đối với các tác phẩm khác, quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo sau năm tác giả qua đời.

Việc quy định rõ thời hạn bảo hộ góp phần xác lập ranh giới minh bạch giữa quyền độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phạm vi tác phẩm thuộc về công chúng, qua đó bảo đảm sự cân bằng giữa bảo hộ quyền tác giả và lợi ích chung của xã hội.

--------------------

Hiện nay, Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển giao Khoa học Công nghệ - TDTU đang tiếp nhận hồ sơ đăng ký sáng chế cho cá nhân, giảng viên, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp.

Mọi thông tin liên quan vui lòng liên hệ:

Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển giao Khoa học Công nghệ - TDTU

  • Địa chỉ: Phòng F.0104 - Số 19 Nguyễn Hữu Thọ, phường Tân Hưng, TP. Hồ Chí Minh
  • Điện thoại: (028) 3776 0653 - 037 246 1275 (gặp Quế Trân)
  • Email: citt@tdtu.edu.vn
  • Facebook: https://www.facebook.com/citt.tdtu/